tiếp theo phần 3
Mới ngủ nửa chừng bỗng có tiếng chân người bước lại gần lều, một giọng đàn ông đánh thức bà dậy:
-Ai ở trong này?
Má bật ngồi lên thật nhanh. Một khuôn mặt đen đúa khom người bước vào. Ông ta mang giày ống mặc quần kaki và áo sơ mi kaki có cầu vai. Thắt nịt hiệu Sam Browne, đeo một bên khẩu súng lục có bao da. Phía ngực trái trên áo sơ mi có gắn một ngôi sao bạc khá lớn. Cái mũ lưỡi trai lỏng lẻo bật lui sau đầu. Ông ta đánh tay vào lều làm tấm bạt đang căng, rung lên bần bật như mặt trống.
Người đó hạch hỏi thêm lần nữa:
-AI Ở ĐÂY?
-Thưa... ông cần gì?
-Bà nghĩ ta cần gì hả? Ta muốn biết ai đang ở đây biết chưa?
-Ô, chúng tôi chỉ có ba người ở đây. Tôi, thêm một bà nội và con gái tôi.
-Đàn ông các người đi đâu hết?
-Sao? Họ đi tắm hết rồi. Chúng tôi lái xe xuyên đêm mà ông.
-Mấy người từ đâu đến?
-Oklahoma, vùng gần Sallisaw.
-Ồ, vậy thì mấy người không thể ở lại nơi này được đâu!
-Chắc chắn chúng tôi phải đi ngay đêm nay và sẽ vượt qua sa mạc thưa ông.
-Vậy thì tốt. Nếu ngày mai mấy người còn ở lại, ta sẽ đuổi các người. Chúng tao không muốn bất cứ một ai trong các người cắm lều ở đây rõ chưa?
Mặt Má xám ngắt vì giận dữ. Bà lừ lừ đứng dậy. Ngang cái hộp dụng cụ, Má chụp lấy cái cán chảo:
-Này ông, ông đang mang huy hiệu và khẩu súng bên người đó nghe. Ta từ đâu đến ư? Bớt cái giọng ông lại đi!
Nói xong bà cầm cái cán chảo tiến tới.
Gã kia mở nút cái bao da đang đựng khẩu súng:
-Dám tới đây xem nào?
-Ông dọa đàn bà thế hả? May không có đàn ông ở đây, còn không họ sẽ xé ông ra nhiều mảnh. Nếu ở quê ta thứ như ông phải liệu giữ cái giọng lại, biết chưa?
Người đó thụt lùi hai bước:
-A, bà đâu còn ở tại quê bà nữa? Các người đang ở California, chúng tao không muốn bọn Okies chết tiệt các người căng lều ở đây biết chưa?
Đang bước tới chợt Má dừng lại, bối rối, bà lẩm bẩm:
-Okies, Okies!
- Đúng, Okies! Nếu ngày mai các người còn ở đây, Ta sẽ đuổi các người biết chưa!
Hắn ta xoay người bước qua lều bên cạnh, tiếp tục đập vào tấm bạt quát hỏi:
-Ai trong này?
Má từ từ bước vào lại dưới tấm bạt. Bỏ lại cái cán chảo vào hộp dụng cụ, bà từ từ ngồi xuống. Rose of Sharon âm thầm theo dõi hành động mẹ nàng từ lâu. Nàng đã chứng kiến sự kiên cường của người mẹ trên nét mặt người, Rose gắng nhắm mắt lại dỗ dành giấc ngủ.
***
Mặt trời buổi xế trưa đã xuống thấp nhưng sức nóng chẳng thấy chút nào hạ giảm. Trong bụi liễu, Tom đã thức dậy, miệng khô rang, người ướt đẫm mồ hôi, đầu óc chẳng khỏe chút nào sau giấc nghỉ ngơi này. Anh gắng đứng dậy, lê tới dòng nước. Anh cởi hết áo quần lội xuống dòng sông. Ngập mình trong nước, cơn khát của Tom mới tan biến đi. Anh tìm một chỗ thật cạn cho thân mình bập bềnh trong nước. Cho khuỷu tay dựa trên nền cát, anh nhìn mấy ngón chân mình nhấp nhô trên mặt nước.
chuột xạ
Có một cậu bé ốm tong teo bò như con thú nhỏ len qua đám lau xong cởi hết áo quần. Xong cậu bé vặn người trườn xuống nước chẳng khác gì con chuột xạ. Đứa nhỏ tự mình trườn theo dòng nước cạn lại giống con chuột xạ đang bơi, chỉ còn mắt và mũi nhô lên mặt nước. Thình lình đứa bé trông thấy đầu Tom nhô lên khỏi mặt nước lại còn nhìn nó, cậu ta ngưng chơi cùng ngồi dậy.
Tom chào đứa bé trước:
-Hello!
-Lo!
-Cháu trông như đang chơi trò “Chuột xạ” chứ gì?
-Ồ, đúng vậy.
Vừa nói cậu bé vừa trờ dần vào bờ sông; thoắt đứng dậy vơ áo quần móc vào cánh tay cùng lủi thẳng vào lùm liễu, đi mất.
Tom lặng cười, bỗng nghe có tiếng kêu to, mừng rỡ gọi tên mình:
-Ôi anh Tom, anh Tom đây rồi!
Anh bật ngồi ngay dậy trong nước và huýt gió thật lớn qua kẽ răng. Nhành liễu chợt lay động, Ruthie người em gái hiện ra nhìn anh.
-Má cần gặp anh gấp, Má cần gặp anh ngay bây giờ.
-Được anh đi ngay đây.
Tom vụt dậy phóng ngay vào bờ; Ruthie kinh ngạc nhìn người anh trần truồng, nhưng cũng chút gì thích thú.
Tom, theo hướng mắt của em gái vừa chạy và nói:
-Chạy mau lên em gái.
Ruthie gắng chạy theo anh trai. Vừa chạy, anh nghe tiếng em gái thích thú gọi Winfield đứa em trai cùng chạy theo. Tom dừng, vắt bộ quần áo nóng bỏng vào thân người ướt đẫm, mát lạnh, anh thong thả đi bộ xuyên qua bụi liễu hướng về tấm lều của gia đình.
Má đang kiếm mấy cành liễu khô nhóm lửa. Bà đang nấu một nồi nước nóng. Má xem chừng an tâm khi thấy con trai trở về.
-Có chuyện gì vậy má?
-Má sợ quá con ạ. Họ, có một cảnh sát vừa tới đây. Ông ta nói chúng ta không được ở lại đây. Lời người đó làm má rất sợ. Má rất lo con có thể đánh người ta nếu con nghe như thế.
-Nhưng họ nói sao đến nỗi Má phải lo là con đánh họ vậy chứ?
Má mĩm cười:
-Ô, gã đó ăn nói quá tệ, tệ đến nỗi má suýt đánh gã.
Tom túm tay má mình rung nhẹ rồi cười. Anh ngồi xuống trên mặt đất, tiếp tục cười:
-Ồ lạy Chúa, con biết là Má hiền lắm mà. Có điều gì đến nỗi làm má nỗi giận đến mức độ như thế hả má?
Ánh mắt bà trở nên lo lắng:
-Má không hiểu Tom à.
-Lần đầu tiên con thấy Má tức giận cầm cái tay quay xe cự lại gia đình, lần này má lại định đánh cả một cảnh sát?
Anh cười dịu dàng, vươn tay vỗ nhẹ vào bàn chân trần trụi của má mình nói chơi:
-Ôi bà già Chằn Lửa ơi!(A ol’ hell-cat)
-Tom này?
-Gì má?
Lưỡng lự khá lâu má bắt đầu thổ lộ:
-Tom nè, gã cảnh sát vừa rồi, hắn gọi chúng ta..Okies!Gã còn nói, ‘Chúng tao không muốn bọn Okies chết tiệt chúng mày căng lều ở đây’ đó con.
Tom theo dõi nét mặt mẹ mình, bàn tay anh vẫn để yên trên bàn chân trần của mẹ.
-Con có nghe người ta nói lại với con thế rồi à má.
Anh thận trọng hỏi mẹ:
-Má à, má có cho con là đứa bất hảo và cần khóa tay lại không má?
-Không, con đang tự rèn luyện mình mà. Không hề thế, sao con lại hỏi má vậy Tom?
-Ồ, con chẳng biết. Con thật sốc về gã cảnh sát đó.
Má cười vui hơn một ít:
-Có thể Má cũng phải hỏi con như thế bởi vì má cũng suýt lấy cán chảo đánh hắn rồi.
-Má, tại sao hắn lại nói chúng ta không được dừng ở đây hả má?
-Hắn nói họ không muốn bất cứ người Okies chết tiệt dựng lều ở đây. Gã còn dọa là sẽ đuổi chúng ta nếu ngày mai còn có mặt ở đây nữa.
-Nhưng cảnh sát không có quyền gì xua đuổi chúng ta được?
-Má có nói với hắn thế. Nhưng hắn nói chúng ta không phải ở quê nhà nữa. Đây là California, và họ có quyền làm gì họ muốn.
Giọng Tom lưỡng lự:
-Má à, con muốn nói điều này với má. Anh Noah vừa bỏ đi về cuối con sông này rồi. Anh ấy không muốn theo gia đình nữa.
Lặng người trong thoáng giây, Má chợt hiểu:
-Tại sao...
Tiếng bà hỏi nghe rất nhỏ.
-Con không hiểu, anh nói anh muốn thế, anh muốn ở lại đây không muốn đi nữa và nhờ con nói giúp với má vậy.
Má lo ngại:
- Noah Làm sao kiếm ra miếng ăn được?
-Con chẳng rõ, nhưng anh ấy nói anh sẽ đi bắt cá mà sống.
Má nín lặng một lúc rồi tiếp:
-Gia đình ta tan nát hết rồi, Má chẳng biết má còn có thể suy nghĩ điều gì nữa không. Má cảm thấy má không thể suy tính gì thêm được nữa. Quá nhiều điều đến với nhà mình rồi con ơi!
Giọng Tom áy náy:
-Anh ấy sẽ yên thôi má à, Anh là người lạc quan vui vẻ mà má.
Má hướng mắt ra dòng sông, đôi mắt thoáng nét buồn thăm thẳm:
-Xem chừng má không còn sức nào để suy nghĩ gì thêm được rồi con à.
Tom hướng về dãy lều, thấy hai đứa em đang đứng trước một mái lều và nói chuyện bình thường với ai bên trong. Ruthie tay vân vê cái váy, trong khi Winfield đang lấy ngón chân móc cái lỗ trên nền đất. Anh lên tiếng gọi em gái:
-Em ơi, Ruthie!
Cô bé ngước lên, vội bước nhanh về anh trai, Winfield vội chạy theo sau. Đợi em đến gần, Tom liền bảo em:
Hai đứa nhỏ xoay người chạy đi gấp…
Tom chợt nhớ ra:
-Má, bà Nội sao rồi?
-Ồ, bà Nội hôm nay ngủ được. Có thể bà sẽ đỡ hơn. Bà vẫn còn ngủ.
-Tốt quá. Còn bao nhiêu thịt heo hả má?
-Không còn nhiều, còn khoảng góc tư con heo thôi.
-Cũng hay, mấy thùng không kia mình đựng cho thật đầy nước. Chúng ta rất cần mang theo nhiều nước.
Hai mẹ con nghe tiếng Ruthie đang réo gọi người nhà đằng bụi liễu phía sông.
Má dùng que khơi lại ngọn lửa, tiếng lách cách bắn lên đáy cái nồi đen.
- Má cầu ơn Chúa cho làm sao cho nhà mình được nghỉ ngơi, Má cầu ơn Jesus ban phước cho chúng ta tới được nơi vừa ý.
-Má lạy ơn Chúa cho chúng ta tới nơi nào để giặt được áo quần. Gia đình ta chưa bao giờ chịu cảnh dơ dáy như thế này? Ngay mấy củ khoai cũng không có nước mà rửa trước khi luộc. Đôi lúc má tự hỏi, sao chúng ta đau khổ như thế này hả Tom?
Mấy người đàn ông từ rặng liễu, nối đuôi nhau trở về. Mắt họ còn ngái ngủ, mặt ai cũng đỏ chạch như phồng lên do phải ngủ ngày trong nóng nực.
Pa lên tiếng hỏi ngay:
-Có chuyện gì vậy?
-Chúng ta phải đi. Cảnh sát họ bảo chúng ta phải đi. Vượt sa mạc trong đêm khá thuận lợi. Chúng ta đi qua cho được sa mạc cũng mất ba trăm dặm đường.
-Thế mà ba cứ tưởng chúng ta được nghỉ ngơi ở đây?
-Ôi, chúng ta không nghỉ được đâu, chúng ta phải đi ba ơi. Noah không đi nữa, anh ấy theo dòng sông này đi mất tiêu rồi!
-Không đi? Chuyện quái gì với nó vậy? Ôi lỗi này là ở ta.
Giọng ông vẫn ân hận:
-Đứa con kia là lỗi lầm của ta mà ra cả.
-Không phải thế.
-Thôi ta không muốn nói thêm nữa, ta không thể…lỗi của ta.
Tom quyết định:
-Thế thì nhà mình phải đi ngay lập tức.
Wilson bước tới, lên tiếng sau cùng:
-Nhà tôi không thể đi được, các bạn à. Sairy vợ tôi trở nặng rồi. Vợ tôi cần ở lại. Vượt qua sa mạc chắc vợ tôi chẳng còn sống được đâu!
Mọi người nín lặng.
-Cảnh sát bảo họ sẽ đuổi chúng ta nếu ngày mai còn ở lại đây.
Ông Wilson vẫn lúc lắc đầu. Mắt ông đầy ân hận, khuôn mặt xám xịt của ông ta càng xanh xao thêm:
-Vợ chồng tôi đành phải chịu vậy. Sairy không còn sức đi nổi! Nếu họ bỏ tù chúng tôi, tại sao họ phải bỏ tù? Vợ tôi đau yếu cần nghỉ mới mạnh lại được mà?
Pa xen vào:
-Có thể chúng tôi phải đợi ông bà để cùng nhau đi…
Wilson cương quyết:
-Không thể thế được. Các bạn rất tốt với vợ chồng tôi; nhưng các bạn có thương cũng không thể trì hoãn thêm được. Các bạn phải tiếp tục lên đường để kiếm cho ra công việc mà làm. Chúng tôi không thể vì mình mà níu kéo các bạn ở lại được!
-Nhưng hai bạn không còn gì cả mà?
Wilson mĩm cười:
-Đừng nói chuyện không còn gì cả. Bạn mang chúng tôi theo dù không phải là bổn phận của mình thế điều làm chúng tôi suy nghĩ. Chớ để chúng tôi trở thành người ích kỷ chỉ vì mình. Các bạn phải đi ngay nếu không đi thì xem như tôi đây quả là người ích kỷ và điên rồ mà thôi.
Má ra dấu cho Pa, kéo ông vào lều cùng nói thì thầm gì đó.
Ông Wilson quay sang thầy Casy:
-Sairy mong thầy tới thăm bà ấy một lát, thưa thầy?
-Vâng được thôi.
Nói xong vị thầy theo ông Wilson tới lều xám và hẹp của hai vợ chồng. Ông chồng gạt nếp gấp của tấm lều qua bên cùng bước vào. Bên trong vừa tối cùng nóng nực. Tấm nệm trải trên nền đất xung quanh ngổn ngang vài thứ đồ đạc, vừa đem xuống buổi sáng. Bà Sairy nằm trên, đôi mắt sáng và mở rộng. Vị thầy đứng yên cúi xuống nhìn bà, cái đầu to lớn của thầy cong xuống, nổi bật những sợi gân dọc hai bên cổ. Thầy cởi mũ cầm ở tay mình.
-Chồng tôi có báo chúng tôi không theo được chuyến đi này phải không thưa Thầy?
-Vâng đúng, ông có báo vậy đó bà.
Bà Sairy tiếp tục giọng nói rất ngọt ngào:
-Thưa tôi rất muốn đi cùng. Nhưng tôi biết tôi không còn sống tiếp để đi tới cho được phái đó còn ông chồng tôi dù sao cũng có khả năng tới được. Nhưng ông ấy không đi do ông không hiểu được. Ông ấy cứ cho rằng tôi sẽ bình phục thôi. Ông không biết nên mới nói không đi. Tôi biết ông chồng tôi bướng lắm. Tôi mong thầy đến và giúp ban cho tôi một lời cầu nguyện, thưa thầy.
Thầy Casy nhỏ nhẹ:
-Ta không còn là một vị thầy thuyết giáo nữa, nên lời cầu nguyện của ta có ích gì đâu?
Bà Sairy liếm môi:
-Lúc Ông Nội vừa qua đời chính tôi có mặt ở đó, và thầy có cho lời cầu nguyện mà thầy?
-Ồ đó không phải là lời cầu nguyện bà ạ.
-Chính đó là lời cầu nguyện thưa thầy.
-Không thưa bà, đó không phải là lời cầu nguyện của một vị thầy thuyết giáo ban ra.
-Tôi nghĩ rằng đó là lời cầu nguyện rất lành, mong thầy cứ cầu vậy giúp tôi nghe thầy?
-Ta không biết phải nói gì với bà đây?
Mắt bà Sairy nhắm nghiền chừng một phút sau chợt mở ra:
-Thầy hãy tự nói với lòng mình. Thôi chẳng cần nói thêm lời gì nữa. Không cần nữa.
Thầy Casy cố bào chữa:
-Chúa chẳng còn trong ta nữa.
-Thầy vẫn còn Chúa trong lòng. Đừng nói khác đi nếu thầy chưa bao giờ thấy Chúa giống gì?
Vị thầy càng cúi đầu thấp hơn. Ánh nhìn của bà chợt một thoáng nào đó tinh anh lẫn lo ngại. Cho đến khi vị thầy ngẩng đầu lên người bệnh đột nhiên an nhiên tỉnh táo hơn cũ.
-Tốt lắm, vậy là đủ rồi thầy. Tất cả chuyện tôi cần chỉ cần ai đó đến thật gần thật đủ gần để rồi cầu nguyện.
Người thầy đạo vẫn lắc đầu như tự đánh thức chính mình:
-Ta không hiểu chuyện gì ở đây cả.
Nhưng người đàn bà kia đáp lại:
-Vâng thầy hiểu mà, phải không thầy?
-Ta biết, ta biết nhưng ta chưa hiểu hết chuyện gì. Bà có thể nghỉ ngơi vài ngày và bình phục thôi mà?
Bà Sairy lặng lẽ lắc đầu, cái lắc đầu thật chậm, từ bên này sang bên kia:
-Tôi đau đớn toàn thân, khắp từng mẫu da thịt thầy ơi! Bao lâu nay tôi biết trong người tôi ra sao, nhưng tôi không thú thật với chồng. Do tôi biết ông ấy sẽ rất buồn rồi chẳng biết xoay xở ra sao? Có thể trong đêm nay thôi, lúc ông ấy đang còn ngủ và khi thức dậy thì mọi sự không còn trở nên quá đau buồn tệ hại gì nữa…
------------------------------------
"Johanna Maria Lind (sinh 6 tháng 10 năm 1820 – 2 tháng 11 năm 1887), nổi tiêng và được biết đến nhiều hơn với tên Jenny Lind, là một ca sĩ opera người Thụy Điển, thường được biết đến với tên gọi "Dạ oanh Thụy Điển". Là một trong những ca sĩ được đánh giá cao nhất trong thế kỷ 19, bà đã biểu diễn các vở opera soprano trong opera ở Thụy Điển và khắp Châu Âu, và bắt đầu chuyến lưu diễn vòng quanh nước Mỹ bắt đầu năm 1850. Bà là thành viên của Học viện Âm nhạc Hoàng gia Thụy Điển từ Năm 1840.Năm 1850, Lind đến Mỹ theo lời mời của người dẫn chương trình P. T. Barnum. Cô đã trao 93 buổi hòa nhạc quy mô lớn cho anh và sau đó tiếp tục đi tour dưới sự quản lý của chính cô. Cô kiếm được hơn 350.000 đô la từ những buổi hòa nhạc này, tặng tiền cho quỹ từ thiện, chủ yếu là học bổng cho các trường học tự do ở Thu Sweden Điển. Với người chồng mới, Otto Goldschmidt, cô trở lại châu Âu vào năm 1852, nơi cô có ba đứa con và đã tổ chức các buổi hòa nhạc trong hai thập kỷ tiếp theo, định cư ở Anh năm 1855. Từ năm 1882, trong một vài năm, cô là giáo sư hát tại Đại học âm nhạc Hoàng gia ở London..."
Trích từ Wikipedia
---------------------------------------
-Bà mong ta ở lại và không đi tiếp nữa chăng?
-Không, không phải thế. Tôi chỉ nhớ và kể lại thời tôi là người con gái nhỏ, tôi chỉ biết ca hát. Bạn bè xúm lại quanh tôi, khen tôi đẹp và còn hát hay chẳng khác gì Jenny Lind một ca nhân nổi tiếng. Bạn bè thường tụ họp để nghe giọng ca của tôi. Họ đứng quanh, còn tôi lo hát. Tại sao thầy biết không? Chúng tôi cần sự gần gũi như vậy, sự gần gũi đến mức thầy chắc chưa bao giờ thấu hết. Tôi thật cám ơn họ, những người từng bâu quanh, sũng ái tôi và thật lòng thưởng thức giọng tôi ca. Sự gần gũi đó còn giá trị hơn nhiều so với những lúc tôi ca trong hí viện. Họ mới chính là sự kết nối toàn mỹ và không còn chút cách biệt gì giữa tôi và họ. Đó là lý do tôi cần thầy hôm nay tới thật gần gũi để ban cho tôi một cầu nguyện qua sự gần gũi tôi cần giống ngày xưa họ gần tôi, nghe tôi hát. Chính đó là sự hợp nhất của một hình thức cầu nguyện, thưa thầy. Hát và cầu nguyện đều là một.
Ước gì, lúc đó có sự hiện diện của thầy để nghe tôi hát.
Vị thầy nghe ngang đây, lặng người cúi đầu thật thấp nhìn thật sâu và đôi mắt người bệnh, sau cùng thì thầm:
-Thôi tạm biệt Sairy!
Người đàn bà gật đầu nhè nhẹ, đôi môi bà giờ mím chặt. Thầy đạo nhẹ nhàng từ biệt căn lều tối om bước ra vùng sáng chói chang bên ngoài...
Nhóm đàn ông lo bỏ đồ đạc lên xe. Bác John ngồi trên cao, phía dưới mấy người khác chuyền đồ đạc lên cho ông. Bổn phận ông phải lo xếp mọi thứ thật cẩn thận, gọn gàng giữ mặt trên thật phẳng. Còn góc tư thùng thịt heo muối Má đổ hết vào cái chảo lớn, Tom và Al đem hai cái thùng dầu không ra sông rửa sạch xong cột chúng vào thành xe, xong lấy gàu múc nước sông đổ đầy xong lấy vải bạt cột miệng phòng nước trào ra ngoài lúc xe chạy. Chỉ còn tấm bạt lều và nệm của bà Nội còn chờ xếp đặt sau cùng.
Tom tính toán:
-Chở nặng thế này, đầu máy xe chắc chắn phải nóng lắm. Chúng ta cần mang thật nhiều nước mới được.
Phần Má trong lều lo vớt mớ khoai tây luộc ra hết, xong bà đem ra nửa túi khoai luộc cùng nồi heo muối. Cả nhà đứng ăn, bàn chân nhúc nhích, hai bàn tay phải chuyền củ khoai nóng qua, lại cho khoai nguội bớt…
Má bước nhanh tới lều ông Wilson, nói gì ở đó khoảng mười phút, xong bà bước ra vẻ mặt trầm lặng.
-Thôi giờ nhà mình lên đường được rồi.
Đàn ông lo bước tới lều. Nội vẫn còn ngủ, miệng vẫn há rộng. Họ cùng nhau đỡ nguyên tấm nệm Nội đang nằm trên, cố nâng nhẹ nhàng tấm nệm lên phần trên cùng của chiếc xe tải. Hai ống chân khẳng khiu của Nội thò ra ngoài, bà chau mày trong giấc ngủ nhưng thật may, Nội không tỉnh dậy.
Bác John và Pa lo cột chặt tấm bạt trên một cái giá chữ thập tạo thành cái lều nhỏ trên nóc đống đồ, xong neo xuống hai thành xe, buộc chặt nó. Mọi thứ đã xong, Pa lấy trong ví ra hai tờ bạc giấy nhàu nát. Ông đi lại lều của người bạn Wilson và chìa ra:
-Cả nhà chúng tôi mong bạn hãy cầm tạm chút quà này cùng…
Ông chỉ vào mớ thịt và khoai vừa luộc …thứ này ăn tạm!
Ông Wilson lắc đầu lia lịa:
-Tôi không lấy đâu. Các bạn không có nhiều mà phải làm như vậy?
Pa khẩn khoản:
-Chúng tôi có đủ để tới đó mà. Chúng tôi đâu phải có chừng này là hết. Chúng tôi sẽ đi làm ngay mà bạn.
Wilson vẫn cương quyết:
-Tôi không nhận đâu, bạn làm thế sẽ biến tôi thành thứ bần tiện mất thôi.
Má nghe vậy liền lấy hai tờ bạc trong tay Pa, gấp lại ngay ngắn, xong bà dằn cái nồi thịt heo lên trên:
-Chúng tôi xin đặt ở đây nhé. Nếu bạn không nhận cho thì kẻ khác lại lấy mất nghe ông Wilson.
Ông Wilson, đầu vẫn cúi xuống, quay người lại lều; ông bước vào bên trong, khoảng hở tấm bạt buông lại sau lưng ông.
Toàn gia đình Tom Joad lặng lẽ chứng kiến phút giây chia tay, chợt Tom lên tiếng:
-Thôi chúng ta lên đường, chắc là gần bốn giờ chiều rồi!
Cả nhà leo lên xe. Má ngồi trên cao cạnh Nội. Tom, Al, và Pa ngồi ở ghế phòng lái. Winfield được ngồi trên đùi Pa. Connie và vợ Rose of Sharon ngồi dựa lưng vào thành phòng lái. Thầy Casy với bác John cùng Ruthie ngồi trên đống đồ hỗn độn sau xe.
Pa gọi to:
-Tạm biệt Ông và Bà Wilson nhé!
Chẳng có tiếng trả lời từ mái lều đó. Tom mở máy, chiếc truck rùng rục, lạng choạng lên đường. Vừa khi chiếc xe bò được lên con đường gồ ghề hướng về Needles để ra Xa Lộ, Má vẫn ngoái nhìn lui.
Bà nhìn thấy- Wilson đứng yên trước lều, tay cầm mũ, chằm chặp nhìn theo xe. Ánh chiều buông trên nét mặt ông. Má vẫy tay chào lần nữa, ông vẫn lặng yên không chút gì đáp lại.
Tom cho xe chạy số hai trên con đường lổm nhổm để bảo vệ cho bộ nhún của xe khỏi hư. Tới được Needles, Tom ghé xe vào một tiệm sửa xe kiểm soát lại hơi trong mấy cái bánh xe sờn rách, coi lại cái bánh xe dự phòng cột chặt đằng sau. Anh còn lo đổ đầy bình xăng, còn mua thêm hai thùng xăng loại 5 gallon dự phòng, cùng một thùng loại hai galon dầu máy. Anh lo đổ đầy két nước, kiếm một bản đồ cùng nghiên cứu đường đi.
Cậu thiếu niên giúp việc cho trạm sửa xe, trong bộ đồng phục trắng, nét mặt thật khó chịu cho đến lúc trả tiền mới hết.
-Đi như thế các người chắc chắn KHÔNG SỢ à?
Tom đang chăm chú trên tấm bản đồ:
-Cậu nói thế có ý gì?
-Ô, sắp vượt qua sa mạc trong chiếc xe ‘gà tàng’ này sao?
-Cậu có qua lần nào chưa?
-Có chứ, qua nhiều lần rồi nhưng không đi bằng chiếc xe hư nát như vậy đâu!
Tom chống chế:
-Nếu xe hư có thể có người giúp đỡ thôi.
-Ồ, hi vọng thế. Nhưng người ta ai cũng sợ ngừng xe ban đêm để giúp ông lắm. Chính tôi cũng ghét ngừng như vậy. Bởi vì chúng tôi rất sợ.
Tom cười:
-Khi bạn không thể làm gì hơn thì không còn phải sợ nữa. Dù sao cũng cám ơn anh bạn. Chúng tôi phải gắng mà lết thôi.
Nói xong, Tom leo lên xe lái đi.
Cậu nhỏ trong bộ đồ trắng bước vào trong tòa nhà làm việc bằng tôn. Bên trong còn có một cậu khác đang bận rộn với đống hóa đơn:
-Lạy Chúa, bọn họ ăn mặc trông khó coi quá!
-Phải bọn Okies không? Chúng nó trông bần hàn quá!
-Lạy Jesus, tao rất ngán đi trên chiếc xe ‘gà tàng’ như thế.
-Ồ, mầy và tao đều có ý thức. Nhưng bọn “chết tiệt” Okies kia biết ý thức là cái quái gì đâu? Bọn họ không còn là người đâu. Nếu người thì không ai phải sống như vậy. Con người chịu được cái cảnh dơ dáy và thê thảm như thế được. Bọn chúng quả là một “đám khỉ đột” không hơn không kém.
-Tao cũng giống mầy , tao rất mừng là chưa hề vượt qua sa mạc lần nào trong chiếc xe Hudson Super-Six 'gà tàng' như thế. Ôi tiếng máy nó nghe chẳng khác gì cái máy xay lúa không bằng?
Nói xong cậu kia tiếp tục dò lại tập hóa đơn. Một giọt mồ hôi khá lớn lắn theo ngón tay dò tìm của cậu ta, rơi xuống tờ hóa đơn màu hồng.
-Mầy biết, bọn họ không gặp nhiều tai nạn. Bởi do chưa gặp tai nạn nên bọn chết tiệt đó chưa biết thế nào là nguy hiểm. Lạy Chúa Toàn Năng, Bởi vì bọn họ chỉ biết có ngần ấy thôi nên chưa thấm. Thế thì bận tâm làm gì.
-Tao chẳng bận tâm, chỉ đặt vào trường hợp mình thôi. Nhưng tao sẽ không bao giờ muốn thế.
-Cũng do mầy biết hơn. Bọn họ thì chẳng biết chút nào cả vậy thôi.
Nói xong, cậu ta lấy tay áo chùi giọt mồ hôi còn đọng trên tờ hóa đơn màu hồng...
CÒN TIẾP 1 KỲ






No comments:
Post a Comment