John Ford (1894-1973) là nhà đạo diễn cuốn phim kịch nghệ (drama film) The Grapes of Wrath vào năm 1940
Cuốn Tiểu Thuyết Chùm Nho Phẫn Nộ -The Grapes of Wrath được John Ford là nhà đạo diễn chuyển tác thành bộ phim kịch nghệ (drama film) vào năm 1940. Nunnally Johnson là nhà viết kịch bản cùng nhà sản xuất điều hành là Darryl F. Zanuck.
Năm 1989, Phim Chùm Nho Phẫn Nộ được Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ chọn một trong 25 bộ phim đầu tiên được nằm trong danh sách văn hóa được bảo tồn do nó có "có ý nghĩa về mặt văn hóa, lịch sử và thẩm mỹ".
***
Xa Lộ 66 là xa lộ lịch sử trong giai đoạn di dân của người dân Mỹ chạy qua tiểu bang California tìm sống trong cuối thập niên 1930
lời bạt
KHOẢNG THẬP NIÊN 1930s của THẾ KỶ 20 NGƯỜI DÂN MỸ CÒN CỰC KHỔ khác thời nay.
Đại Khủng Hoảng Kinh Tế Thế Giới 1929-33 khiến cho kinh tế Mỹ sụp đổ, trong đó tầng lớp nông dân cũng lâm vào cảnh phá sản rồi đến đất đai bị tịch thu do không trả nợ ngân hàng nổi.
Nông dân miền trung tây nước Mỹ ồ ạt tìm về hướng tây nơi đó có lời đồn tiểu bang California là vùng đất nông nghiệp trù phú đang cần nhiều nhân công làm việc trên nông trại.
Đọc truyện dịch từ tập truyện The Grapes of Wrath chúng ta hình dung ra hoàn cảnh những người Mỹ nghèo chật vật khó khăn trên đoạn đường xa xôi đi tìm đất sống.
Gia Đình Tom Joad là những nhân vật chính cùng Xa Lộ 66 là trục đường chính... trong cốt truyện Chùm Nho Phẫn Nộ.
Đinh hoa Lư
(hình ảnh phụ đề do người dịch biên soạn và đính kèm)
ba cha con người di dân chỉ còn 10 xu vào năn nỉ mua bánh mỳ không thịt do nghèo (bộ phim đóng năm 1940)
bà Mae chủ quán bên đường trong bộ phim The Grapes of Wrath (1940)
QUÁN BÊN ĐƯỜNG
Dọc theo Xa Lộ 66 người ta thấy mấy bảng hiệu hamburger như Al & Susy's Place, Carl's Lunch, Joe & Minnie, Will's Eats. Đó là những loại tiệm xây dựng bằng ván. Mặt trước thường thấy hai trụ xăng, phía sau là cái cửa kiếng, tiếp đến là cái quầy dài, ghế ngồi chân cao, tay vịn sắt. Ba máy đánh bạc gần cửa, chán khối tiền bạc bên trong mặt kiếng của ba cái máy sẽ mang lại. Cái máy hát phono đặt kế đó với một chồng dĩa hát tự động thay dĩa, phát ra các bài để nhảy như "Ti pi ti pi Tin" [1] "Thanks for the Memory"của Binh Crosby, Benny Godman.
Cuối quầy hàng có một cái kệ có cửa, bên trong bán mọi thứ - thuốc ho, thuốc chống buồn ngủ caffeine sulfate, No-Doze, kẹo, thuốc hút, dao cạo râu, aspirin, thuốc chống đau đầu Bromo-Seltzer, đau bao tử Alka-Seltzer. Trên tường treo đầy các quảng cáo. Hình các cô gái đang bận áo tắm, ngực nở eo thon, khuôn mặt mịn màng trong mấy bộ đồ tắm trắng tinh, tay còn cầm quảng cáo chai Coca-Cola, miệng tuơi cười. Những gì bạn đang ngắm đều nhằm mời bạn mua Coca-Cola.
Tiếp đó là cái bàn dài- nào muối, nào tiêu, nào hũ mù-tạt (mustard), cùng giấy lau miệng. Sau kệ hàng còn có một vòi bia, kế lưng nó là bình nấu cà phê sáng bóng đang bốc hơi. Mức cà phê hiện lên sau mặt đo bằng thủy tinh. Bánh mứt đặt từng chồng hình tháp bốn lớp. Trong cái lồng sắt- nào bánh nướng, cốm bắp, sắp xếp trông khá đẹp mắt.
bài hát TI PI TI PI TIN 1930s
bài hát TI PI TI PI TIN 1930s
Bảng quảng cáo láng bóng với nhiều hàng tựa:
Mứt Mẹ Hay Làm
Nợ Là Kẻ Thù
Hãy Là bạn
Đàn Bà Hút Được Nhưng Cẩn Thận Nơi Bạn Vứt Tàn thuốc
Ăn ở Đây, Để vợ bạn Coi Con thú Cưng
IITYWYBAD? (If I Tell You Why You Buy A Drink )(Xin mời bạn mua một món uống).
Cuối dãy bếp, có mấy nồi thịt hầm, khoai, nồi thịt um, bò nướng, thịt heo quay vàng rộm đang chờ cắt mỏng.
Mấy cái tên Minnie, Susy, hoặc Mae đều dùng gọi một người đàn bà trung niên đang đứng bán sau quày hàng. Đầu tóc bà uốn quăn, phơn phớt hồng nằm trên khuôn mặt lấm tấm mồ hôi. Giọng bà nhỏ nhẹ ghi hàng (order) khách gọi, nhưng khi nói vói với nhà bếp, nghe oang oác như tiếng công kêu. Chưa có khách gọi order, bà lo lấy đồ lau kệ hàng, chùi cho sáng bóng lại bình nấu cà phê. Người nấu bếp, tên Joe còn gọi là Carl hay Al, đúng kiểu trong cái áo khoác và tạp dề trắng. Dưới vành mũ, mồ hôi Carl lấm chấm trên vầng trán trắng bệch. Dáng anh buồn buồn, im lặng, ít nói, chỉ thoáng ngẩng lên mỗi lần mang đồ lên. Tiếp tục, cạo lại vỉ nướng, áp mấy cái hamburger lên đó. Anh liên tục làm theo món hàng bà Mae kêu, trình tự, đàng hoàng. Xong, anh tiếp tục cạo vỉ, dùng miếng vải bố chùi lại mặt vỉ. Anh im lìm trong công việc.
Bà Mae là người quản lý lo việc tiếp khách. Có lúc bà cười, lúc lại nổi cáu, bùng nổ không biết khi nào. Lúc bà ấy cười, đôi mắt như tìm về quá khứ- nhưng dừng ngay lúc có tài xế xe tải ghé quán. Làm ăn nhờ vào họ. Những chiếc xe tải dừng chính là lúc khách hàng đang đến. Khó mà lừa được với những bác tài này, họ là giới rành đời. Chủ quán quá biết giới tài xế này có thói quen nào rồi. Bán cà phê ôi thiu cho họ thì xem như mất mối làm ăn ngay. Phải bán đàng hoàng thì lần sau còn mong họ ghé lại.
Mae cố gắng nở nụ cười thật tươi tiếp các tài xế. Bà cố kéo tóc lại đằng sau để ngực mình cao thêm mỗi dịp tay bà đưa cao. Cứ một ngày qua lại là một ngày mang tới vài điều tuyệt vời. Thời gian trôi qua cũng lý thú do nó bao gồm nhiều câu chuyện tiếu lâm vui nhộn.
Anh chàng tên Al, lại khác do chẳng bao giờ thấy anh nói. Anh không phải là hạng người dễ tiếp xúc đâu. Thỉnh thoảng anh thoáng cười khi nghe câu pha trò nào đó, nhưng anh chàng chẳng hề cười lớn. Có lúc anh nhìn lên nhằm lắng nghe giọng nói liếng thoắng của bà Mae rồi lại tiếp tục dùng nĩa cạo sạch vỉ nướng, các lớp mỡ trong chão hay quanh vành dĩa. Dùng nĩa, anh ép nướng xèo- xèo mấy miếng thịt hamburger trên vĩ. Nhiều miếng bánh mỳ tròn, chẻ hai, anh cho lên dĩa xong hơ nóng lại. Anh lại lấy nĩa dằn thêm một lớp hành lên mặt miếng thịt bằm. Úp nửa miếng mì tròn lên mặt thịt, nửa miếng kia anh xoa thêm một lớp bơ, vài lát dưa ngâm chua mỏng. Luồn nĩa dưới miếng mỳ có thịt, vừa giữ nó và lật lại. Úp miếng mỳ có thoa bơ lên trên, xong xuôi anh đặt lên cái dỉa nhỏ hơn. Thêm góc tư trái dưa chua, hai trái ô liu đen kèm theo cái bánh mỳ thịt vừa làm xong đó, xong Al chuồi chiếc dĩa chạy vụt xuống cuối quầy như trò chơi ném dĩa. Anh lại tiếp tục dùng cái nĩa cũ cạo sạch mỡ, mắt đăm chiêu trông chừng nồi thịt hầm...
***
Xe chạy vùn vụt trên Xa Lộ 66. Những chiếc xe mang bảng số từ các tiểu bang: Mass, Tenn, R.I., N.Y., Vt., Ohio. Tất cả đều đổ về hướng tây. Những chiếc xe tốt chạy đến sáu muơi lăm dặm một giờ.
Có người lại chạy với chiếc Cords trông giống cỗ quan tài đặt trên bốn bánh xe vậy.
Nhưng lạy đức Giê Su, làm sao mà họ chạy được?
Còn chiếc La Salle thì sao ? Theo ta, chẳng cần tham lam (ain't a hog); ta sẽ chọn đi chiếc La Salle.
Nếu bạn muốn đi chiếc lớn hơn, loại Cad có được không? Nó lớn hơn và chạy nhanh hơn một ít.
Ta sẽ tự chọn chiếc Zephyr. Ông bạn sẽ không ưa lái chiếc nào vô giá trị, nhưng bạn chọn xe quý còn chạy nhanh nữa. Thế thì để ta chọn chiếc Zephyr.
- Ồ, thưa ông, ông lại cười lớn quá rồi.
-Thôi ta lại chọn chiếc Buick hay 'Puick'. Cũng tốt chán.
-Thôi ta lại chọn chiếc Buick hay 'Puick'. Cũng tốt chán.
Nhưng, thật khốn nạn, sẽ hết tiền theo loại Zephyr, nó chẳng lừa được ai?
-Ta chẳng cần. Ta chẳng thích và không thèm mó tay vào những đời xe của Henry Ford nữa. Ta hết thích ông này và chẳng mua gì. Bạn hãy cho anh em vào làm hãng này một lần xem, sẽ nghe mấy người bạn đó nói về ông chủ này.
- Ôi loại Zephyr chạy yếu xìu!
Xe lớn tiếp tục chạy trên xa lộ đó. Vài người đàn bà uể oải, người nhuốm đầy bụi đỏ đi đường. Họ khư khư ôm theo bao thứ thứ lỉnh kỉnh như kem, dầu bôi, thuốc màu trong mấy cái lọ nhỏ chứa thuốc bôi đen, hồng, đoe, trắng, lục, bạc dùng thay đổi màu tóc, mắt, môi, cho đến lông mày, lông mi cùng cả nón của họ. Họ chú ý đến mấy thứ hạt, thuốc viên uống cho nhuận trường. Luôn cái túi đựng những loại chai, ống tiêm, thuốc viên, thuốc bột, thuốc nước, dầu bôi để an toàn trong giao hợp, không mùi và ngừa thai. Khác xa với áo quần lếch thếch bên ngoài;
Thật là cả một trời phiền toái!
Người ta thấy nếp thâm quầng quanh mắt số đàn bà này. Những nếp nhăn đầy bất mãn từ miệng chảy xuống. Mấy cái nịt vú nhỏ bé phải nâng đỡ những bộ ngực đồ sộ. Bụng và đùi họ ép sát trên mấy cái thùng nhựa. Miệng họ rên rỉ, mắt ủ ê, do thù ghét nắng, gió cùng bụi đường. Họ căm giận sự thiếu thốn miếng ăn và mệt mõi. Họ ghét bỏ thời gian vì hiếm khi thấy họ đẹp mà họ luôn tự thấy già nua.
Cạnh số đàn bà kia là những người đàn ông bụng phệ. Số đàn ông đó bận vét mỏng, đội mũ Panama hơi rộng vành. Họ trông sạch sẽ, hồng hào nhưng đôi mắt đầy bối rối, âu lo do chưa được nghỉ ngơi hay kế hoạch chưa thành. Họ thèm khát sự bảo vệ, áng chừng nó đã biến mất trên mặt đất này. Họ mang phù hiệu khách sạn và dịch vụ trên ve áo, những nơi này họ có quyền đi lại với những gì ung dung cùng tự tin vào công việc cao quý vì chính họ tự biết họ đã gìn giữ hết cái cảnh trộm đaọ nơi này. Họ là những con người làm ăn mẫn cán đến thế dù có lời đồn cho họ là ngu ngốc; họ là những kẻ đầy lòng nhân ái cùng tử tế biết bao dù phải làm việc theo nguyên tắc thuơng nhân; đời sống họ vẫn phong phú bao dung dù rằng phải thường xuyên chịu đựng bao mệt nhọc. họ biết thế; và giờ là thời gian để họ làm việc và không còn chút e dè nào nữa.
Có hai ông bà khách đi California; họ vào ngồi tại phòng đợi của khách sạn Beverly -Wilshire với cách nhìn như thầm ghen tức với những người đang đi qua trước mắt. Cũng xin nhắc với bạn rằng họ tới California để thấy rặng núi này tới răng núi khác cùng những cây cối vĩ đại. Ông thì cặp mắt lộ vẻ bồn chồn,lo lắng; còn bà đang ngại ánh nắng làm cháy da mình không? Ông Bà này ra đi để nhìn cho được thấy cái đại duơng mang tên Thái Bình ra sao? Ta dám cá với các bạn cả trăm ngàn đô la nhưng lại không ăn xu nào rằng ông ta sẽ nói "Té ra cái biển này không lớn như anh nghĩ" còn bà sẽ ghen tị với những thân hình tròn trịa trẻ trung trên bãi biển. Đi tìm California té ra giống hệt như quay về nhà thôi.
- Cái bà em không biết tên (so-and so) ngồi cạnh bàn chúng ta ở Khách Sạn Trocadero đó. Cái bà sao mà bê bối nhưng bà ta ăn bận thật đẹp"
Rồi ông nói tiếp:
-Anh có nói chuyện với mấy người làm việc hoạt bát ngoài kia. Khi nào mình thoát được vòng tay kiểm soát của ông tổng thống nước mình trong Toà Bạch Ốc thì hi vọng mấy gã đó mới hết cơ hội. "
Bà tiếp lời:
-Trong cuốn phim của Warner mà anh biết đó, cô ả mắc bệnh giang mai vì ngủ với gã ta suốt hành trình trong cuốn phim đó. Ô, cô ả phải nhận cái hậu mà cô ả đi tìm là vậy"...
Tiếp tục câu chuyện cũng không xoá hết nét lo âu trong hai đôi mắt hai ông bà này cùng lúc miệng luôn mang cái bĩu môi, chưa bao giờ thoáng chút vui lòng lần nào.
Có chiếc xe to lớn đang chạy với tốc độ sáu muơi.
-Em cần một ly nước đá lạnh.
- Ồ, gắng chút nữa em à, đằng trước này rồi.Ta dừng lại nhé?
-Anh nghĩ uống ở đây có sạch sẽ không vậy ?
-Thứ sạch sẽ này ngang tầm với em đang tìm tại cái xứ sở bị Chúa bỏ rơi đó em ơi.
-Ồ, vậy thì tạm mua chai soda đóng chai cũng được.
Chiếc xe to lớn đó thắng rít lại. Ông chồng béo phệ cố gắng dìu bà vợ ra khỏi xe.
Mae thoáng nhìn phớt qua hai người khách này lúc họ vào. Al hơi nhìn lên một chút xong tiếp tục nướng thịt. Mae biết ngay thôi: họ chỉ mua uống lon soda 5 xu thôi, nhưng lại chê bai là không đủ lạnh. Còn bà vợ lại vơ hết sáu miếng giấy chùi miệng xong lại vứt trên nền nhà. Gã chồng thì che miệng vừa than phiền, ca cẩm với Mae. Bà vợ giờ đây lại khịt mũi y như đang ngửi mùi thịt thối quanh đó không bằng. Thế rồi họ vội đi ra nhưng lại nguyền rủa người miền Tây sao muôn đời cứ thiếu thiện cảm mãi thế?
Mae đợi khách này đi rồi, bà ta sẽ nói với Al rằng đó là hạng người bần tiện nhất trên đời. (shitheels)
còn tiếp



No comments:
Post a Comment